
Xuống cuối trang
Về trang chủ


rong cuộc sống, nếu cố gắng và may mắn một chút, bạn có thể đạt được những điều tuyệt vời. Bạn có thể trở thành một vị tướng, một vận động viên siêu hạng, một nghệ sĩ nổi tiếng và thậm chí…tổng thống. Nhưng để trở thành một thiên tài? Khó đấy! Điều kiện cần của thiên tài là bẩm sinh, còn sự rèn luyện và yếu tố may mắn chỉ là điều kiện đủ. Gần đây, trên mạng internet người ta đã thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến các nhà vật lý, yêu cầu nêu tên người tài giỏi nhất trong số họ. Người đứng đầu bản xếp hạng Alber Einstein.
Alber Einstein sinh năm 1879, là con đầu trong một gia đình doanh nhân không mấy thành công. Cha ông, Herman Einstein, là một người ưa suy nghĩ thực tế. Mẹ ông, Bauline, con gái của người bán bánh mì, tính tình nhu mì nhưng có đầu óc tinh tế. Bà rất yêu văn chương và âm nhạc. Từ thuở bé, nhà bác học tương lai được dạy chơi dàn violon. Phải chật vật lắm Rober mới nắm vững được kĩ thuật sử dụng nhạc cụ này và về sau rất mê nhạc Mozart.
ĐỨA TRẺ KÌ QUẶT
Einstein lớn lên như một đưa trẻ kỳ quặc, thích sống cơ đơn, khép kín và thường hay cáu bẳn. Khi bọn trẻ cùng trang lứa chơi trò trận giả, Rober thường khóc ré lên vì sợ hãi. Ở trường, câu bị coi là đứa bé đần độn và ngu ngốc đến khủng khiếp. Một giáo viên vật lý từng “phán” về Einstein: “ngữ này rồi chẳng làm được gì nên cơm nên cháo!”. “lời sấm” này tỏ ra chính xác khi Alber Einstein rớt đánh “oạch” trong kì thi tuyển sinh vào trường đại học bách khoa Zurich nổi tiếng và mãi tới kỳ thi năm sau mới đỗ.
Trên giảng đường, Einstein thường ngồi cạnh Mileva Marich, nữ sinh viên người servia có vẻ ngoài vô cùng “ảm đạm”. cô gái này bị bệnh lao khớp, vì vậy có bước đi khập khiễng. Tuy nhiên, Mileva có trí tuệ phi phàm và năng lực tuyệt vời trong môn toán học. Người mẹ của nhà bác học tương lai cho rằng cô gái này “thừa hưỡng gen di truyền kém may mắn”, còn bạn bè thì rất ngạt nhiên khi thấy họ tỏ ra rất quý mến nhau. Nhưng bất chấp tất cả, đôi bạn trẻ ngày một trở nên gần gũi nhau hơn và cuối cùng, họ kết hôn vào năm 1901.
Ngay trong năm đó đứa con gái đầu lòng của họ ra đời và được đặt tên Lizerl. Nhưng bất hạnh thay, cô bé bị thiểu năng tâm thần, căn bệnh mà ngày nay được gọi là hội chứng down. Các hoạt động khoa học không cho phép đôi vợ chồng trẻ dành nhiều thời gian cho con, vì thế em bé được gửi cho ông bà của Marich nuôi. Bé Lizerl qua đời vì bệnh ban đỏ khi mới được một tuổi rưỡi.
Năm 1905, Einstein xin được việc làm tại văn phòng cấp bằng sáng chế Zurich. Đôi vợ chồng trẻ sống rất khó khăn, thiếu thốn trăm bề. Einstein lại bị bệnh dạ dầy và bệnh gan trở thành mãn tính. Trước những thử thách nặng nề, nghiệt ngã ấy, cuộc hôn nhân bắt đầu rạn nứt và cuối cùng thì tan vỡ hẳn. Những ý tưởng chính của thuyết tương đối, vốn được họ thảo luận, bàn bạc cùng nhau trước đó chỉ được họ hoàn thiện sau khi ly hôn. Phải mất 10 năm của cuộc đời, từ 1905 – 1916.
LÍ THUYẾT “RỐI RẮM”
Lí thuyết vĩ đại nhất của thế kỹ 20, Lúc đầu đã không được các nhà khoa học chấp nhận. Các nhà khoa học lớn còn thế, nói chi người bình thường! Không ai có thể hiểu nổi một chút gì trong cái lí thuyết được coi là rối rấm, phức tạp này. Alber Einstein cảm thấy vô cùng phiền toái khi thường xuyên bị bạn bè, đồng nghiệp và các nhà khoa học bật thầy bắt phải giải thích lí thuyết ấy là gì. Chán nản bởi sự quấy rối vô tận, ông từng nói với một phụ nữ: “hãy hình dung có 10 người dành một quãng thời gian dài đến đau đớn để giải thích cho bạn điều gì đó. Như vậy là nhiều hay ít?”. “rất nhiều” – người phụ nữ nọ trả lời. Ông hỏi tiếp: “thế nếu trên thế giới chỉ có 10 người hiểu được lí thuyết của tôi? Như vậy là nhiều hay ít?”. Người phụ nữ nọ không biết phải trả lời như thế nào. Einstein nói: “như vậy là nhiều, thậm chí quá nhiều!”.
Thái độ như vậy đối vời một học thuyết mới không phải không có cơ sở: Nó đưa ra một “nhận thức” hoàn toàn khác về thế giới. Ngoài ra, từ “tương đối” gây cho mọi người sự liên tưởng đến câu châm ngôn triết học nổi tiếng: “mọi chuyện trên đời đều chỉ là tương đối”. Nhưng ở đây, nhà khoa học trẻ (thực ra “tương đối trẻ” thì đúng hơn) của chúng ta viết về những vấn đề khác. Einstein là người đầu tiên đưa ra khái niệm không gian 4 chiều, thêm tham số thời gian vào 3 chiều thông thường của không gian, chứng minh rằng không gian và thời gian là những khái niệm tương đối; thời gian có thể thay đổi “số đo” của mình.. Ông cũng là người đầu tiên đề xướng khái niệm về không gian cong.
Tuy nhiên, thậm chí sau khi đã đoạt giải Nobel, Einstein vẫn còn bị cáo buộc đạo văn; nhiều người cho rằng một số công thức trong thuyết tương đối của ông là do các nhà nghiên cứu khác tính toán ra. Chẳng hạn, công thức nổi tiếng E = mc2, chìa khóa quan trọng bật nhất trong nghiên cứu, chế tạo bơm nguyên tử, là của nhà khoa học tự học ít được biết đến Olinto De preto (1857 - 1921), người Ý. Nghề nghiệm chính của Olinto De preto là quản lý bất động sản của gia đình và trong những khoảng thời gian rãnh rỗi, ông tự nghiên cứu khoa học, có được những khám phá rực rở.
Cũng có nhiều nhà nghiên cứu tuyên bố rằng mình đã tìm ra lí thuyết tương đối từ lâu những chưa tiện công bố. Ngoài ra, nhiều người còn gièm pha rằng để xây dựng thuyết tương đối, Einstein đã được vợ cũ của mình Mileva Marich, giúp đở rất nhiều ở khía cạnh toán học. Một bằng chứng gián tiếp của việc này là dù đã li hôn, Ông vẫn chia cho Mileva Marich một phần của giải Nobel.
Có thể một sự kiện nào đó thực sự không phải hoàn toàn là chuyện thiêu dệt bịa đặt. Điều đáng tiếc duy nhất là những người theo đuổi chủ đề này do quá ham khai thác những chi tiết giật gân nên đã quên rằng Einstein không bao giờ nói rằng Ông là người đầu tiên đề xướng ra cái này cái nọ. Đóng góp chính của Ông là ở chổ, bằng thiên tài của mình, Ông đã có thể vuột lên trên sự hiểu biết thông thường về thế giới, vượt lên trên các phép tính toán toán học và vật lý tầm thường để đưa ra một phương pháp nhận thức hoàn toàn mới (cả về mặt vật lý lẫn triết học) về không – thời gian.
Động lực nào đã đẩy nhà khoa học thiên tài đến cách giải thích khác thường về những điều quen thuộc? Rất khó đưa ra một câu trả lời rõ rằng, nhất quán. Trong những ghi chép có tính chất tự truyện của mình, Einstein từng viết: “ở một nơi nào đó, thế giới vĩ đại này tồn tại độc lập với chúng ta – con người – và đứng trước chúng ta như một bí ẩn lớn đời đời có sẵn, tuy nhiện, nó cũng hé mở cho nhận thức và tâm trí của chúng ta ít nhất là một phần. Việc nghiên cứu thế giới này hấp dẫn chúng ta, đồng thời cũng giải phóng chúng ta”.
NEWTON CỦA THẾ KỶ 20
Cho đến năm 13 tuổi Alber Einstein là người theo đạo, sau đó, cậu bé thất vọng về tôn giao của mình. “sau khi đọc những cuốn sách phổ biến khoa học, tôi bắt đầu hiểu ra rằng những câu chuyện trong kinh thánh không phải là sự thật. Tôi thoát dần ra khỏi những giáo điều chật hẹp để được tự do tư duy” – Ông viết trong hồi kí. Nhà bác học tương lai bắt đầu quan tâm đến triết học và đặc biệt ưa thích các tác phẩm của Kant. Trong ngôn ngữ thường ngày của Ông, màu triết lí nhốm ngày càng đậm. Tuy nhiên, không nên coi thuyết tương đối là một luận triết mới trong thế giới quan của Ông. Trước hết, đó là công trình khoa học. Trong sự hiểu biết về vũ trụ, Einstein đã không vượt qua ranh giới thiên hà của chúng ta (nghĩa là thiên hà chứa mặt trời).
Thuyết tương đối chỉ được công nhận trong năm 1919, khi các nhà thiên văn học xác nhận sự đúng đắn của kết luận rằng lực hấp dẫn làm lệch ánh sáng, gây ra độ cong của không gian. Ngày 25/5/1919, khi xẫy ra nhật thực toàn phần, tại đường xích đạo ở Nam Mĩ các nhà thiên văn học người Anh đã đo được độ lệch của ánh sáng phát ra từ các ngôi sao. Giá trị của độ sai lệch trùng khớp chính xác với tính toán lí thuyết của Einstein. Sau sự kiện này, Einstein được xếp vào hàng những thiên tài lớn của nhân loại như Socrates, Aristotle và Newton.
PMC
Lời chúc yêu thương